PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

- 0 / 0
Nguồn: Bài giảng TS Nguyễn Thế Sơn
Người gửi: Hồ Thị Thông (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:53' 03-10-2010
Dung lượng: 21.4 KB
Số lượt tải: 930
Người gửi: Hồ Thị Thông (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:53' 03-10-2010
Dung lượng: 21.4 KB
Số lượt tải: 930
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn thái sơn
Chương II
Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng và biện chứng duy vật
Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
Biện chứng: Chỉ các mối liên hệ, tác động qua lại.
Nguyễn thái sơn
+ Biện chứng khách quan:
+ Biện chứng chủ quan:
Phép biện chứng: Học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng các nguyên tắc cho quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Nguyễn thái sơn
b. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng thời kỳ cổ đại
Phép biện chứng duy tâm
Phép biện chứng duy vật
2. Phép biện chứng duy vật:
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
Nguyễn thái sơn
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm mối liên hệ phổ biến: Chỉ mối liên hệ có tính phổ biến, tất yếu, khách quan giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
b. Tính chất của các mối liên hệ:
Tính khách quan
Tính phổ biến
Nguyễn thái sơn
Tính đa dạng, phong phú
c. ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm toàn diện:
+ Xem xét các sự vật hiện tượng trên nhiều góc độ, khía cạnh.
+ Tránh phiến diện, một chiều
- Quan điểm lịch sử, cụ thể:
Nguyễn thái sơn
2. Nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm phát triển: Là quá trình vận động theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Tính chất của sự phát triển;
Tính khách quan
Tính phổ biến
Nguyễn thái sơn
Tính đa dạng, phong phú.
Tính kế thừa.
c. ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở khoa học để rút ra quan điểm phát triển.
Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt chúng trong trạng thái vận động,phát triển.
Nguyễn thái sơn
Phát triển là một quá trình biện chứng, có tính thuận nghịch, đa chiều, diễn ra khá phức tạp.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
Xu hướng chung, chủ yếu của sự vận động biến đổi chính là sự phát triển.
Nguyễn thái sơn
III. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Một số vấn đề chung
Phạm trù là những kháiniệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.
Mỗi một bộ môn khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng của mình.
Nguyễn thái sơn
2. Cặp phạm trù cái riêng và cái chung
Định nghĩa:
Cái riêng: Là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Cái chung: Là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ chung, giống nhau, lặp lại nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Nguyễn thái sơn
b. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Cả cái chung và cái riêng đều tồn tại khách quan.
Caía chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.
Nguyễn thái sơn
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung.
Cái riêng là cái toàn bộ nên phong phú, đa dạng hơn cái chung. Cái chung là cái bộ phận nên sâu sắc và bản chất hơn cái chung.
c. ý nghĩa phương pháp luận
Cần nhận thức đúng về cái chung để vận dụng vào từng cái riêng cụ thể.
Nguyễn thái sơn
Muốn nắm bắt được cái chung lại phải xuất phát từ cái riêng.
Mỗi cái chung khi áp dụng vào cái riêng cần phải có sự cá biệt hóa để tạo ra sự hài hòa.
Khắc phục bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc.
Khắc phục tư tưởng cục bộ, địa phương.
Nguyễn thái sơn
3. Nguyên nhân và kết quả
Định nghĩa
Nguyên nhân: Là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau và gây ra những biến đổi nhất định.
Nguyễn thái sơn
Lưu ý: Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, nguyên nhân với điều kiện.
Kết quả: Là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
b. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyễn thái sơn
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, đặc trưng của mối quan hệ nhân quả là quan hệ sản sinh. Nguyên nhân luôn có trước kết quả, kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện và bắt đầu tác động.
- Cùng một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại một kết quả có thể được gây nên bởi sự tác động của nhiều nguyên nhân.
Nguyễn thái sơn
- Nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật cùng một hướng thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả. Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau.
- Nguyên nhân và kết quả có thể hoán đổi vị trí trong những mối quan hệ khác nhau.
Nguyễn thái sơn
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có các tính chất như khách quan, phổ biến, tất yếu.
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Mối quan hệ nhân - quả giúp chúng ta củng cố và khẳng định thế giới quan duy vật, chống lại các quan điểm duy tâm, thần bí.
- Vì mối quan hệ nhân - quả tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng trong chính thế giới hiện tượng chứ không thể ở đâu khác.
Nguyễn thái sơn
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những mặt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
- Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra nên trong quá trình xác định nguyên nhân cần hết sức tỷ mỉ, thận trọng, cần vạch ra cho được một cách tương đối đầy đủ các nguyên nhân cơ bản.
Nguyễn thái sơn
3. Tất nhiên và ngẫu nhiên
Định nghĩa
- Tất nhiên: Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác.
-Ngẫu nhiên: Là cái không do bản thân kết cấu của sự vật quyết định mà do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài đưa tới.
Nguyễn thái sơn
4. Nội dung và hình thức
Định nghĩa
Nội dung: Là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật.
Hình thức: Là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ:
- Nội dung và hình thức có sự gắn bó khăng khít với nhau, chúng không thể tồn tại tách rời nhau, không có hình thức nào không chứa đựng nội dung và ngược lại không có nội dung nào lại không tồn tại trong những hình thức nhất định.
- Cùng một nội dung trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức và ngược lại cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau.
Nguyễn thái sơn
Trong quá trình vận động, phát triển, nội dung bao giờ cũng là mặt động. Sự phát triển của sự vật bắt đầu từ nội dung. Khi nội dung biến đổi thì hình thức cũng biến đổi theo. Do đó nội dung là yếu tố quyết định hình thức. Nội dung nào thì hình thức đó.
Tuy nội dung giữ vai trò quyết định nhưng điều đó không có nghĩa hình thức chỉ là yếu tố hoàn toàn bị động mà ngược lại hình thức luôn có tính độc lập tương đối và có tác động tích cực trở lại đối với nội dung.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nội dung và hình thức. Cần phải thấy rằng tuyệt đối hoá nội dung hay hình thức đều là những thái cực sai lầm.
- Cần sử dụng sáng tạo mọi hình thức có thể để phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn.
Nguyễn thái sơn
5. Bản chất và hiện tượng
Định nghĩa:
- Bản chất: Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó.
- Hiện tượng: Hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ thuộc về bản chất ra bên ngoài.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ
- Cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan.
- Giữa bản chất và hiện tượng luôn có mối quan hệ hữu cơ hết sức gắn bó. Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Sự thống nhất đó biểu hiện ở chỗ bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất.
Nguyễn thái sơn
- Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó hoặc nhiều hoặc ít.
- Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật, không nên dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó.
- Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng.
- Nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nói riêng là phải vạch ra được cái bản chất.
Nguyễn thái sơn
6. Khả năng và hiện thực
Định nghĩa
- Khả năng: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những gì hiện chưa có, chưa tới, nhưng sẽ có, sẽ tới khi xuất hiện đầy đủ các điều kiện tương ứng.
- Hiện thực: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những gì đang tồn tại, bao gồm cả tồn tại khách quan và tồn tại chủ quan.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ:
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau,luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau
- Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ có duy nhất một khả năng.
- Ngoài một số khả năng vốn có ở sự vật trong những điều kiện nào đấy, khi có thêm những diều kiện mới bổ sung thì ở sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới.
Nguyễn thái sơn
- Trong giới tự nhiên, khả năng biến thành hiện thực chủ yếu là một quá trình khách quan.
- Trong lĩnh vực xã hội, khả năng không thể tự biến thành hiện thực nếu khong có sự tham gia của con người. Con người có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực, có thể điều khiển cho khả năng phát triển theo hướng này hoặc theo hướng khác bằng cách tạo ra các điều kiện tương ứng.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua hoặc xem thường khả năng.
- Vì khả năng sẽ biến thành hiện thực nên phải tiính đến các khả năng có thể để vạch kế hoạch hành động thích ứng.
Nguyễn thái sơn
IV. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại
Các khái niệm cơ bản:
- Khái niệm chất: Chất làmột phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác.
Nguyễn thái sơn
Khái niệm lượng: Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu hiện số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
b. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
Trong quá trình vận động và phát triển, sự thay đổi của chất và lượng không diễn ra độc lập với nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay đổi của cái này là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của cái kia và ngược lại.
Nguyễn thái sơn
Mối quan hệ này được biểu thị qua các khái niệm sau:
+ Khái niệm độ: Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, nó là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
+ Điểm nút: Là những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sự vật.
+ Bước nhảy: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự vật của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Để có được tri thức đầy đủ về sự vật, chúng ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.
- Tích luỹ về lượng để thay đổi chất, chống tư tưởng chủ quan, duy ý chí đốt cháy giai đoạn.
- Tích luỹ đủ về lượng thì kiên quyết thực hiện bước nhảy, chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
- Vận dụng linh hoạt quy luật theo những quan hệ cụ thể.
Nguyễn thái sơn
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
a. Các khái niệm cơ bản
Mặt đối lập: Là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập: Là sự quy định, ràng buộc lẫn nhau, là tiền đề tồn tại của nhau, là sự cần phải có nhau giữa các mặt đối lập
Nguyễn thái sơn
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập: Là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập.
Mâu thuẫn:
+ Mâu thuẫn là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập.
+ Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
+ Mâu thuẫn là một hiện tượng có tính khách quan và phổ biến
Nguyễn thái sơn
b. Khái quát nội dung cơ bản của quy luật
- Mọi sự vật và hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuần trong bản thân mình. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành động lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận:
- Đứng trước bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng phải thấy sự tác động của hai mặt đối lập. Nhận thức sự vật thực chất là nhận thức các mâu thuẫn của sự vật.
- Để nhận thức mâu thuẫn, cần phải nắm được sự phát sinh, tồn tại, phát triển của mâu thuẫn.
- Phải phân tích cụ thể mâu thuẫn. Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, phải theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó.
Nguyễn thái sơn
3. Quy luật phủ định của phủ định
a. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
- Định nghĩa về sự phủ định: Sự phủ định nói chung có nghĩa là sự thay thế những sự vật hiện tượng cũ bằng những sự vật, hiện tượng mới. (Sự mất đi của cái cũ và đồng thời là sự xuất hiện của cái mới).
- Định nghĩa về sự phủ định biện chứng và đặc trưng của phủ định biện chứng
Nguyễn thái sơn
+ Định nghĩa: Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định.
+ Đặc trưng: Phủ định biện chứng mang tính khách quan và kế thừa.
- Quá trình phủ định biện chứng:
Hạt thóc - phủ định - cây lúa - phủ định - bông lúa - khẳng định trên cơ sở mới.
- Sự phủ định trong thực tế có thể phải qua một số lần phủ định.
Nguyễn thái sơn
- Đặc điểm quan trọng nhất của phủ định biện chứng: Phủ định là sự phát triển dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn. Sự phát triển theo đường xoáy trôn ốc thể hiện tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại mà có tính chất tiến lên.
Nguyễn thái sơn
- Khái quát nội dung cơ bản: Qua một số lần phủ định (ít nhất là hai lần), sự vật hoàn thành một chu kỳ phát triển. Phủ định lần thứ nhất tạo ra cái đối lập với sự vật ban đầu, đó là một mắt khâu trung gian. Phủ định lần thứ hai tạo ra làm xuất hiện cái mới như là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực của cái cũ. Quy luật này khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển, diễn tả sự phát triển.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong sự phát triển của sự vật cái mới sẽ ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu. Do đó cần biết phát hiện cái mới đích thực, tạo điều kiện cho cái mới ra đời và cho sự phát triển của cái mới.
- Cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những yếu tố tích cực của cái cũ do đó cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.
- Khắc phục tư tưởng bảo thủ.
Nguyễn thái sơn
V. Lý luận nhận thức
1.
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
Chương II
Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng và biện chứng duy vật
Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
Biện chứng: Chỉ các mối liên hệ, tác động qua lại.
Nguyễn thái sơn
+ Biện chứng khách quan:
+ Biện chứng chủ quan:
Phép biện chứng: Học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng các nguyên tắc cho quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Nguyễn thái sơn
b. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng thời kỳ cổ đại
Phép biện chứng duy tâm
Phép biện chứng duy vật
2. Phép biện chứng duy vật:
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
Nguyễn thái sơn
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm mối liên hệ phổ biến: Chỉ mối liên hệ có tính phổ biến, tất yếu, khách quan giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
b. Tính chất của các mối liên hệ:
Tính khách quan
Tính phổ biến
Nguyễn thái sơn
Tính đa dạng, phong phú
c. ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm toàn diện:
+ Xem xét các sự vật hiện tượng trên nhiều góc độ, khía cạnh.
+ Tránh phiến diện, một chiều
- Quan điểm lịch sử, cụ thể:
Nguyễn thái sơn
2. Nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm phát triển: Là quá trình vận động theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Tính chất của sự phát triển;
Tính khách quan
Tính phổ biến
Nguyễn thái sơn
Tính đa dạng, phong phú.
Tính kế thừa.
c. ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở khoa học để rút ra quan điểm phát triển.
Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt chúng trong trạng thái vận động,phát triển.
Nguyễn thái sơn
Phát triển là một quá trình biện chứng, có tính thuận nghịch, đa chiều, diễn ra khá phức tạp.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
Xu hướng chung, chủ yếu của sự vận động biến đổi chính là sự phát triển.
Nguyễn thái sơn
III. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Một số vấn đề chung
Phạm trù là những kháiniệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.
Mỗi một bộ môn khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng của mình.
Nguyễn thái sơn
2. Cặp phạm trù cái riêng và cái chung
Định nghĩa:
Cái riêng: Là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Cái chung: Là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ chung, giống nhau, lặp lại nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Nguyễn thái sơn
b. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Cả cái chung và cái riêng đều tồn tại khách quan.
Caía chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.
Nguyễn thái sơn
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung.
Cái riêng là cái toàn bộ nên phong phú, đa dạng hơn cái chung. Cái chung là cái bộ phận nên sâu sắc và bản chất hơn cái chung.
c. ý nghĩa phương pháp luận
Cần nhận thức đúng về cái chung để vận dụng vào từng cái riêng cụ thể.
Nguyễn thái sơn
Muốn nắm bắt được cái chung lại phải xuất phát từ cái riêng.
Mỗi cái chung khi áp dụng vào cái riêng cần phải có sự cá biệt hóa để tạo ra sự hài hòa.
Khắc phục bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc.
Khắc phục tư tưởng cục bộ, địa phương.
Nguyễn thái sơn
3. Nguyên nhân và kết quả
Định nghĩa
Nguyên nhân: Là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau và gây ra những biến đổi nhất định.
Nguyễn thái sơn
Lưu ý: Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, nguyên nhân với điều kiện.
Kết quả: Là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
b. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyễn thái sơn
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, đặc trưng của mối quan hệ nhân quả là quan hệ sản sinh. Nguyên nhân luôn có trước kết quả, kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện và bắt đầu tác động.
- Cùng một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại một kết quả có thể được gây nên bởi sự tác động của nhiều nguyên nhân.
Nguyễn thái sơn
- Nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật cùng một hướng thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả. Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau.
- Nguyên nhân và kết quả có thể hoán đổi vị trí trong những mối quan hệ khác nhau.
Nguyễn thái sơn
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có các tính chất như khách quan, phổ biến, tất yếu.
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Mối quan hệ nhân - quả giúp chúng ta củng cố và khẳng định thế giới quan duy vật, chống lại các quan điểm duy tâm, thần bí.
- Vì mối quan hệ nhân - quả tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng trong chính thế giới hiện tượng chứ không thể ở đâu khác.
Nguyễn thái sơn
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những mặt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
- Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra nên trong quá trình xác định nguyên nhân cần hết sức tỷ mỉ, thận trọng, cần vạch ra cho được một cách tương đối đầy đủ các nguyên nhân cơ bản.
Nguyễn thái sơn
3. Tất nhiên và ngẫu nhiên
Định nghĩa
- Tất nhiên: Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác.
-Ngẫu nhiên: Là cái không do bản thân kết cấu của sự vật quyết định mà do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài đưa tới.
Nguyễn thái sơn
4. Nội dung và hình thức
Định nghĩa
Nội dung: Là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật.
Hình thức: Là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ:
- Nội dung và hình thức có sự gắn bó khăng khít với nhau, chúng không thể tồn tại tách rời nhau, không có hình thức nào không chứa đựng nội dung và ngược lại không có nội dung nào lại không tồn tại trong những hình thức nhất định.
- Cùng một nội dung trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức và ngược lại cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau.
Nguyễn thái sơn
Trong quá trình vận động, phát triển, nội dung bao giờ cũng là mặt động. Sự phát triển của sự vật bắt đầu từ nội dung. Khi nội dung biến đổi thì hình thức cũng biến đổi theo. Do đó nội dung là yếu tố quyết định hình thức. Nội dung nào thì hình thức đó.
Tuy nội dung giữ vai trò quyết định nhưng điều đó không có nghĩa hình thức chỉ là yếu tố hoàn toàn bị động mà ngược lại hình thức luôn có tính độc lập tương đối và có tác động tích cực trở lại đối với nội dung.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nội dung và hình thức. Cần phải thấy rằng tuyệt đối hoá nội dung hay hình thức đều là những thái cực sai lầm.
- Cần sử dụng sáng tạo mọi hình thức có thể để phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn.
Nguyễn thái sơn
5. Bản chất và hiện tượng
Định nghĩa:
- Bản chất: Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó.
- Hiện tượng: Hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ thuộc về bản chất ra bên ngoài.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ
- Cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan.
- Giữa bản chất và hiện tượng luôn có mối quan hệ hữu cơ hết sức gắn bó. Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Sự thống nhất đó biểu hiện ở chỗ bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất.
Nguyễn thái sơn
- Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó hoặc nhiều hoặc ít.
- Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật, không nên dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó.
- Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng.
- Nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nói riêng là phải vạch ra được cái bản chất.
Nguyễn thái sơn
6. Khả năng và hiện thực
Định nghĩa
- Khả năng: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những gì hiện chưa có, chưa tới, nhưng sẽ có, sẽ tới khi xuất hiện đầy đủ các điều kiện tương ứng.
- Hiện thực: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những gì đang tồn tại, bao gồm cả tồn tại khách quan và tồn tại chủ quan.
Nguyễn thái sơn
b. Mối quan hệ:
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau,luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau
- Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ có duy nhất một khả năng.
- Ngoài một số khả năng vốn có ở sự vật trong những điều kiện nào đấy, khi có thêm những diều kiện mới bổ sung thì ở sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới.
Nguyễn thái sơn
- Trong giới tự nhiên, khả năng biến thành hiện thực chủ yếu là một quá trình khách quan.
- Trong lĩnh vực xã hội, khả năng không thể tự biến thành hiện thực nếu khong có sự tham gia của con người. Con người có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực, có thể điều khiển cho khả năng phát triển theo hướng này hoặc theo hướng khác bằng cách tạo ra các điều kiện tương ứng.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua hoặc xem thường khả năng.
- Vì khả năng sẽ biến thành hiện thực nên phải tiính đến các khả năng có thể để vạch kế hoạch hành động thích ứng.
Nguyễn thái sơn
IV. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại
Các khái niệm cơ bản:
- Khái niệm chất: Chất làmột phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác.
Nguyễn thái sơn
Khái niệm lượng: Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu hiện số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
b. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
Trong quá trình vận động và phát triển, sự thay đổi của chất và lượng không diễn ra độc lập với nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay đổi của cái này là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của cái kia và ngược lại.
Nguyễn thái sơn
Mối quan hệ này được biểu thị qua các khái niệm sau:
+ Khái niệm độ: Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, nó là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
+ Điểm nút: Là những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sự vật.
+ Bước nhảy: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự vật của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Để có được tri thức đầy đủ về sự vật, chúng ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.
- Tích luỹ về lượng để thay đổi chất, chống tư tưởng chủ quan, duy ý chí đốt cháy giai đoạn.
- Tích luỹ đủ về lượng thì kiên quyết thực hiện bước nhảy, chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
- Vận dụng linh hoạt quy luật theo những quan hệ cụ thể.
Nguyễn thái sơn
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
a. Các khái niệm cơ bản
Mặt đối lập: Là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập: Là sự quy định, ràng buộc lẫn nhau, là tiền đề tồn tại của nhau, là sự cần phải có nhau giữa các mặt đối lập
Nguyễn thái sơn
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập: Là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập.
Mâu thuẫn:
+ Mâu thuẫn là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập.
+ Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
+ Mâu thuẫn là một hiện tượng có tính khách quan và phổ biến
Nguyễn thái sơn
b. Khái quát nội dung cơ bản của quy luật
- Mọi sự vật và hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuần trong bản thân mình. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành động lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận:
- Đứng trước bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng phải thấy sự tác động của hai mặt đối lập. Nhận thức sự vật thực chất là nhận thức các mâu thuẫn của sự vật.
- Để nhận thức mâu thuẫn, cần phải nắm được sự phát sinh, tồn tại, phát triển của mâu thuẫn.
- Phải phân tích cụ thể mâu thuẫn. Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, phải theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó.
Nguyễn thái sơn
3. Quy luật phủ định của phủ định
a. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
- Định nghĩa về sự phủ định: Sự phủ định nói chung có nghĩa là sự thay thế những sự vật hiện tượng cũ bằng những sự vật, hiện tượng mới. (Sự mất đi của cái cũ và đồng thời là sự xuất hiện của cái mới).
- Định nghĩa về sự phủ định biện chứng và đặc trưng của phủ định biện chứng
Nguyễn thái sơn
+ Định nghĩa: Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định.
+ Đặc trưng: Phủ định biện chứng mang tính khách quan và kế thừa.
- Quá trình phủ định biện chứng:
Hạt thóc - phủ định - cây lúa - phủ định - bông lúa - khẳng định trên cơ sở mới.
- Sự phủ định trong thực tế có thể phải qua một số lần phủ định.
Nguyễn thái sơn
- Đặc điểm quan trọng nhất của phủ định biện chứng: Phủ định là sự phát triển dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn. Sự phát triển theo đường xoáy trôn ốc thể hiện tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại mà có tính chất tiến lên.
Nguyễn thái sơn
- Khái quát nội dung cơ bản: Qua một số lần phủ định (ít nhất là hai lần), sự vật hoàn thành một chu kỳ phát triển. Phủ định lần thứ nhất tạo ra cái đối lập với sự vật ban đầu, đó là một mắt khâu trung gian. Phủ định lần thứ hai tạo ra làm xuất hiện cái mới như là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực của cái cũ. Quy luật này khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển, diễn tả sự phát triển.
Nguyễn thái sơn
c. ý nghĩa phương pháp luận
- Trong sự phát triển của sự vật cái mới sẽ ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu. Do đó cần biết phát hiện cái mới đích thực, tạo điều kiện cho cái mới ra đời và cho sự phát triển của cái mới.
- Cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những yếu tố tích cực của cái cũ do đó cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.
- Khắc phục tư tưởng bảo thủ.
Nguyễn thái sơn
V. Lý luận nhận thức
1.
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
Nguyễn thái sơn
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Hộp thư bè bạn